Thứ Sáu, 28 tháng 2, 2014

Suy Niệm Chúa Nhật 8 Thường niên - Năm A

SUY NIỆM CHÚA NHẬT 8 THƯỜNG NIÊN - NĂM A

Suy niệm

LÀM TÔI THIÊN CHÚA
Mt 6,24-34
 
 
Tin mừng hôm nay của thánh Mátthêu bắt đầu với lời tuyên bố mạnh mẽ của Chúa Giêsu: “Không ai có thể làm tôi hai chủ, vì hoặc sẽ ghét chủ này mà yêu chủ kia, hoặc sẽ gắn bó với chủ này mà khinh dể chủ nọ. Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi tiền của được”(Mt 6,24). Chúa Giêsu muốn dạy chúng ta điều gì?
Không thể làm tôi hai chủ
Rõ ràng Chúa Giêsu không đề nghị cho những người theo Chúa một thái độ dửng dưng, coi thường tiền bạc, nhưng Người cảnh báo thái độ thượng tôn tiền của, xem tiền của như cứu cánh duy nhất của cuộc sống làm người. Sự trung thành của các môn đệ, những người theo Chúa Giêsu, không thể bị chia đôi được. Đó là sự trung thành mà chúng ta hay cha mẹ chúng ta đã cam kết khi lãnh nhận Bí tích Rửa tội, qua đó chúng ta để cho Chúa chiếm hữu và hướng dẫn cuộc đời chúng ta, và xem Người là cứu cánh của cuộc đời chúng ta.
Thật vậy, Chúa Giêsu nhấn mạnh rằng một người không thể làm tôi hai chủ được. Chúa Giêsu không có ý chê bai, coi thường những giá trị của vật chất, nhưng là đề nghị cho chúng ta một thái độ ứng xử đúng đắn trước tiền của, phải biết định giá chúng. Trong thực tế có những người ảo tưởng rằng nếu có tiền và quyền lực thì cuộc sống của họ và gia đình sẽ được bảo đảm, an toàn và hạnh phúc. Và như thế, chẳng lẽ không còn gì khác còn lại trên thế gian này được gọi là hạnh phúc đích thực cả? Về căn bản, tiền bạc chỉ là phương tiện để đổi chác, qua đó những nhu cầu thiết yếu cho cuộc sống được đáp ứng, giá trị căn bản của con người được bảo đảm. Vấn đề nảy sinh khi tiền của trở thành cứu cánh cho mọi hành động của con người, khi tiền của trở thành kẻ thao túng mọi suy nghĩ, hành động, cách ứng xử và lối sống của con người. Tiền bạc giống như một con dao hai lưỡi, nó có thể là một đầy tớ tốt nhưng là một ông chủ tồi. Chúng ta biết rằng: “cội rễ sinh ra mọi điều ác là lòng ham muốn tiền bạc, vì buông theo lòng ham muốn đó, nhiều người đã lạc xa đức tin và chuốc lấy bao nỗi đớn đau xâu xé (1 Tm 6,6-8).
Ai là ông chủ?
Hôm nay, Chúa Giêsu đòi hỏi các môn đệ trung thành với sự lựa chọn của mình: để Chúa làm chủ cuộc đời của mình. Vì thế, chúng ta phải loại trừ mọi “ông chủ” khác vốn làm rạn nứt tình thân giữa con người với Thiên Chúa. “Ông chủ” của chúng ta là bất cứ ai, điều gì hướng dẫn cách suy nghĩ về cuộc sống, tư tưởng của chúng ta, và kiểm soát mọi ước muốn của tâm hồn và những giá trị mà chúng ta chọn lựa để sống theo. Chúng ta có thể bị thống trị bởi nhiều thứ khác nhau: yêu tiền bạc và của cải, sức mạnh của địa vị và danh vọng, sức quyến rũ của giàu sang và danh tiếng, đam mê phóng túng và ước muốn xấu xa. Cuối cùng sự chọn lựa ai là ông chủ của chúng ta chung qui là Thiên Chúa hay tiền của.
Nói tóm lại Chúa Giêsu đòi hỏi các môn đệ hôm nay hãy suy gẫm về những gì làm nên giá trị căn bản nhất cho cuộc sống của một con người. Chúng ta phải lựa chọn giữa cái nhìn của Thiên Chúa và mối bận tâm lo lắng của chúng ta về tiền của. Hai sự lựa chọn này không tương hợp với nhau. Cho nên, chúng ta có lẽ phải chấp nhận trải qua những cơn đau đớn để loại ra khỏi cuộc đời mình rất nhiều điều mà chúng ta đã từng xem đó như là những hỗ trợ cần thiết cho cuộc sống, để cuối cùng chính Thiên Chúa là “ông chủ” còn lại hướng dẫn cuộc đời chúng ta.
Lạy Chúa, “Xin đừng để con túng nghèo, cũng đừng cho con giàu có; chỉ xin cho con cơm bánh cần dùng, kẻo được quá đầy dư, con sẽ khước từ Ngài mà nói: "Đức Chúa là ai vậy ?" hay nếu phải túng nghèo, con sinh ra trộm cắp, làm ô danh Thiên Chúa của con”(Tv 30,9-10.) Amen.
 
 

Thứ Sáu, 21 tháng 2, 2014

Suy niệm Chúa Nhật 7 Thường Niên - Năm A

Suy niệm Chúa Nhật 7 Thường Niên - Năm A
Mt 5,38-48

Suy niệm

“Mắt đền mắt sẽ làm cho cả thế giới mù lòa”

Trong khung cảnh Bài Giảng Trên Núi, qua bài Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu tiếp tục đề nghị một lối hành xử đặc trưng cho những người theo Người. Chúa Giêsu đặt trước người nghe cách diễn tả của luật cũ:“mắt đền mắt, răng đền răng”, và “hãy yêu đồng loại và hãy ghét kẻ thù”, và qua đó Người đề nghị một tinh thần sống luật mới: hãy yêu kẻ thù và những người ngược đãi mình. Phải chăng đòi hỏi của Chúa Giêsu đi ngược lại sự sự công bằng? Tha thứ kẻ thù là điều không thể thực hiện được?

Đem yêu thương vào nơi oán thù”
Dưới khía cạnh pháp lý, những người nào gây thiệt hại về tinh thần lẫn thể chất cho ai thì có nghĩa vụ đền bù cho người bị hại và sửa chữa chính mình. Đó là điều chính đáng. Tuy nhiên, việc trả thù hay việc đòi bồi thường là một quyền chứ không phải là nghĩa vụ. Người bị hại có quyền yêu cầu để được bồi thường những thiệt hại, nhưng họ không bị buộc phải làm như vậy. Họ có thể hoàn toàn tha thứ cho người gây hại mình. Hôm nay, Chúa Giêsu mời gọi những người theo người từ bỏ quyền trả thù, quyền“mắt đền mắt, răng đền răng” này. Tại sao vậy?
Chúa Giêsu không muốn chúng ta giẫm lên “vết xe đỗ” của người làm hại chúng ta, tức là tránh quay về với sự xấu, lấy sự xấu để đối phó với sự xấu, nhưng là tìm kiếm sự tốt lành để tiêu diệt sự xấu. “Dĩ đức báo oán"(Khổng tử). Người muốn các muôn đệ sẵn sàng “đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hòa vào nơi tranh chấp, đem chân lý vào chốn lỗi lầm”. Chúa Giêsu đưa ra một tiêu chuẩn mới không chỉ dựa trên những đòi hỏi của sự công bằng: trả lại công bằng cho người bị xâm hại, mà còn dựa trên luật của ân sủng và yêu thương. Vì “mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính”(MT 5,45). Thiên Chúa đối xử tốt với những người lành cũng như kẻ dữ. Tình yêu người bao trùm những người thánh thiện cũng như người tội lỗi. Thiên Chúa tìm kiếm những điều tốt lành nhất và dạy chúng ta tìm kiếm những điều tốt lành nơi những người khác, dù cho họ có thù ghét hay đã từng hãm hại chúng ta.
Trong thực tế hôm nay, bạo lực và hận thù không phải là giải pháp đem lại hòa bình cho những “xung đột” giữa người này với người kia, giữa quốc gia này với quốc gia kia. Một thái độ chất chứa hận thù và bạo lực sẽ đưa thế giới đến một kết cục thảm hại: bạo lực, chiến tranh, chết chóc tang thương,.. Luật“mắt đền mắt sẽ làm cho cả thế giới mù lòa” (Mahatma Gandhi), và không bao giờ thấy được ánh sáng của hòa bình.

Chúng ta có thể tha thứ cho kẻ thù?
Hầu hết chúng ta không phải là những “bậc thánh” để có thể dễ dàng tha thứ hết mọi lỗi lầm của người làm hại chúng ta, nhưng nếu trái tim chúng ta còn sức chứa đựng thì chúng ta hoàn toàn có thể đón nhận họ vào. Tha thứ luôn là linh dược chữa trị mọi khổ đau của người được tha thứ lẫn người tha thứ. Tha thứ chính là đỉnh cao của tình yêu. Nếu bình tĩnh và biết quan sát thì bao giờ chúng ta thấy rằng kẻ gây ra lầm lỗi chính là nạn nhân rất đáng thương. Họ có thể làm cho ta đau vì đã lỡ làm cho ta tổn thương nhưng chính họ mới khổ nhiều nhất vì những sân hận hay những bế tắc tâm lý đang bủa vây và hành hạ trong từng giây từng phút, và không biết khi nào họ mới bừng tỉnh ra để tạo lập đời sống bình an và hạnh phúc. Vì thế, hơn ai hết họ cần được yêu thương, tha thứ và cầu nguyện từ phía chúng ta.

Điều gì làm cho các Kitô hữu khác với những người khác? Điều gì làm cho người Kitô hữu dễ được nhận biết hơn những người khác? Đó là ân sủng, tức là cách đối xử với người khác, không như họ mong muốn nhưng như Thiên Chúa muốn họ được đối xử như thế: đối xử với tình yêu mến và thương cảm. Với Thiên Chúa không có gì không thể, vì thế cho nên Người luôn ban cho chúng ta sức mạnh và ân sủng để chúng ta hành động như Người. Tình yêu của Người chinh phục tất cả, ngay cả lúc chúng ta đang gặp nỗi đau, sự sợ hãi. Chỉ thánh giá của Chúa Giêsu mới có thể giải phóng chúng ta khỏi sự thống trị của những ác tâm, hận thù, oán hận và giúp chúng ta can đảm đối phó sự dữ bằng sự tốt lành. Chúa Giêsu đã tha thứ cho những người bách hại mình: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm."(Lc 23,34). Bằng cách đó chúng ta làm cho lịch sử nhân loại thấm đượm tinh thần Tin mừng và Tin mừng trở thành một thực tại sống động và có thật, hòa bình chiến thắng óc hiếu chiến ưa gây hấn, tình yêu khống chế được hận thù. “Như vậy, anh em mới được trở nên con cái của Cha anh em, Đấng ngự trên trời” (Mt 5,45).


Thứ Bảy, 15 tháng 2, 2014

Suy niệm Chúa Nhật 6 Thường Niên - Năm A

Suy niệm Chúa Nhật 5 Thường Niên - Năm A
Tin mừng Mt 5,17-37
LUẬT CHÚA GIÚP CON NGƯỜI SỐNG DỒI DÀO
Lời Chúa hôm nay có lẽ sẽ khiến nhiều người khó chịu trước những khoản luật, những đòi buộc luân lý của Chúa Giêsu. Dẫu biết rằng “luật chẳng qua chỉ làm cho người ta ý thức về tội”(Rm 3,20), nhưng rất nhiều người có khuynh hướng nhìn luật Chúa dưới khía tiêu cực hơn là tích cực. Những điều răn của Chúa như những gánh nặng mà họ phải mang hằng ngày. Tuy nhiên, nếu bình tâm một chút, suy niệm một chút, chúng ta sẽ thốt lên như lời tác giả thánh vịnh 119: “Thánh chỉ Ngài là khúc nhạc của con; Thánh ý Ngài là gia nghiệp con mãi mãi, vì đó là hoan lạc của lòng con” (Tv 119,54.111).
Luật Chúa là gánh nặng?
Bạn nghĩ rằng Thiên Chúa thật bất nhẫn khi đặt ra những điều luật mà chúng ta không thể sống theo được? Như thế, có bao giờ ban thử đặt câu hỏi: một bác sĩ có bất nhẫn khi cho bạn biết nguyên nhân căn bệnh của bạn là do bạn ăn thực phẩm có độc tố? Bạn nghĩ gì khi bác sĩ kê cho bạn một toa thuốc giải độc và cứ để bạn tiếp tục ăn những thực phẩm có độc tố kia, là thứ mà nó sẽ giết chết bạn?
Trọng cuộc sống hằng ngày, có những luật đòi hỏi chúng ta phải tôn trọng và thực thi thì mới bảo đảm được sự sống toàn vẹn của chính chúng ta, và của người khác nữa. Cũng vậy, việc giữ luật Chúa sẽ giúp người Kitô hữu tránh khỏi những đau khổ, vì luật Chúa cho chúng ta thấy được những nguyên nhân của đau khổ, buồn phiền trong tinh thần và thể xác. Thiên Chúa bày ra trước mặt chúng ta con đường của sự sống và con đường của sự chết, và mỗi phút giây trong cuộc đời chúng ta phải chọn lựa hoặc con đường này hoặc con đường kia. Khi chúng ta sống theo luật Chúa và thực thi lòng bác ái, công bằng, tha thứ, tử tế và phi bạo lực, thì chúng ta hoàn toàn chọn con đường của sự sống và sớm muộn gì chúng ta cũng đón những hiệu quả tốt lành nhờ vào lối sống đó.
Thiên Chúa là một nhà sư phạm đầy kinh nghiệm. Người đòi hỏi con người phải vươn lên, vươn cao lên mãi, nhưng Người không đòi hỏi những điều vượt quá khả năng của con người. Bằng uy quyền vốn có, Chúa Giêsu không áp đặt những điều luật cách võ đoán, nhưng cho thấy một thứ bậc mới các giá trị. Mỗi khuynh hướng ích kĩ, những ước muốn tính dục, việc tìm kiếm lợi lộc cá nhân bằng cách lừa dối, phải biến mất trong đời sống của người Kitô hữu.
Luật Chúa làm cho chúng ta sống dồi dào
Dĩ nhiên, luật Chúa không làm cho chúng ta sống dư dật về của cải vật chất, nhưng sống sung mãn về tinh thần. Vì con người sống là sống những mối tương quan: với Thiên Chúa, với tha nhân, với vạn vật và với chính mình, nên con người cần phải sống theo đạo làm người, đó là hoàn thiện bản thân, tu dưỡng đạo đức nơi chính mình và có trách nhiệm với những người chung quanh, tức là mọi ứng xử của cá nhân không gây thiệt hại đến Thiên Chúa, không làm hoen ố, xúc phạm đến hình ảnh của Người nơi mình và người khác, đồng thời chúng ta có bổn phận đem được sự an vui, hạnh phúc đến cho mọi người. Do đó, luật Chúa luôn chứa đựng đạo lý con người, như kim chỉ nam để con người sống cho ra người, sống đúng đạo làm người.
Thật vậy, luật Chúa cho con người cách duy nhất để sống dồi dào ngay bây giờ, trong cuộc đời này! Đây là một sự đòi hỏi của Đức Giêsu với các môn đệ: họ phải có một lối sống “dồi dào hơn” sự công chính của giới kinh sư và Pharisêu. Như thánh Phaolô nói rằng có lẽ ngài sẽ không biết điều gì gây ra sự đau khổ của ngài nếu ngài không biết đến luật (x. Rm 7,7). Và như thánh Gioan nói “các ông sẽ biết sự thật, và sự thật sẽ giải phóng các ông” (Ga 8,32). Luật Chúa giải phóng chúng ta khỏi việc mang lấy những nỗi đau, buồn phiền và đau khổ của chính bản thân và của mọi người xung quanh. Giải phóng khỏi sự hối tiếc, tội lỗi và sự xấu hổ. Giải phóng khỏi sự đồi bại, hoen ố, tham lam, dâm dục, chiến tranh, giết người, bệnh tật, trụy lạc, nghiện ngập,… 

Nói tóm lại, để được giải phóng và trở nên hoàn thiệnchúng ta cần đến sự khôn ngoan đích thực vốn chỉ có nơi Thiên Chúa và chúng ta được thừa hưởng nhờ thánh ý của Người. Thật hạnh phúc cho chúng ta sống đời hoàn thiện, biết noi theo luật Chúa! (x.Tv 119, 1). Để trở nên khôn ngoan chúng ta cần chọn lựa cách cẩn thận những gì mà chúng ta muốn chọn, không phải bằng cách vâng phục mù quáng, theo nghĩa đen, thiếu tình yêu, nhưng bằng việc phân định và cầu nguyện. Trong bài Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu không đưa ra một tiêu chuẩn nào mới nữa, nhưng Người muốn đặt người Kitô hữu ở vị trí cao hơn tiêu chuẩn đánh giá của thế gian. Luật mới của Đức Giêsu sẽ tạo nên những con người mới, một xã hội mới, tạo nên “Nước Trời” nơi mà chúng ta sẽ “trở nên hoàn thiện như chính Thiên Chúa là Đấng Hoàn Thiện”(Mt 5,48).


Thứ Bảy, 8 tháng 2, 2014

Suy niệm Chúa Nhật 5 Thường Niên - Năm A

Suy niệm Chúa Nhật 5 Thường Niên - Năm A
Mt 5,13-16

Suy niệm
Bài Tin mừng hôm nay, thánh Mátthêu mời gọi chúng ta nhận thức về phẩm giá và trách nhiệm Kitô hữu là “muối cho đời” và “ánh sáng trần gian”. Muối và ánh sáng là những hình ảnh mạnh mẽ nói lên cương vị môn đệ. Việc các môn đệ của Chúa Giêsu phải trở nên muối, ánh sáng có nghĩa là gì?
Bài đọc thứ nhất, ngôn sứ Isaia kêu gọi việc thực thi sự công bằng và sự quan tâm với lòng trắc ẩn đối với những người yếu đuối, nghèo hèn và cô thế cô thân. Qua những hành động như thế, sự tốt lành của Thiên Chúa được tỏ lộ. Và bằng cách đó, ánh sáng của các môn đệ sẽ “bừng lên như rạng đông”.
Trở về với kinh nghiệm cuộc sống, ai trong chúng ta cũng thừa nhận rằng muối rất cần thiết trong thực đơn hằng ngày. Vai trò của muối là làm cho thức ăn đậm đà hơn. Thức ăn không có muối thì thật là nhạt nhẽo, vô vị. Muối rất quan trọng đến nỗi người ta không thể tưởng tượng cuộc sống sẽ như thế nào nếu không có nó. Còn một chức năng khác nữa, đó là muối có khả năng bảo quản tốt. Muối giữ nhiều thứ khỏi bị hư hoại.Trong một số nền văn hóa, tôn giáo, muối được hàm nghĩa sự tinh khiết, vì nó xuất phát từ những sự tinh khiết nhất: đó là mặt trời và biển. Vì thế, muối là phẩm vật nguyên sơ nhất trong các lễ vật dâng lên các vị thần. Người Do thái luôn bỏ thêm chút muối vào các lễ vật dâng lên Thiên Chúa.
Vì thế, khi Chúa Giêsu sánh ví các môn đệ là muối đất, thì Người có ý nói rằng người theo Chúa Giêsu phải là gia vị cho cuộc đời, mang niềm vui, hạnh phúc và bình an, công bằng và tình thương, sự chăm sóc và quan tâm, hy vọng và ủi an cho những người xung quanh. Hơn nữa, các muôn đệ phải là người bảo vệ sự tốt lành và ngăn ngừa sự xấu trong xã hội. Qua chính sự hiện diện của mình, các muôn đệ phải có khả năng đánh tan mọi nguy cơ hủy hoại con người ở mọi phương diện. Dĩ nhiên điều này không dễ dàng chút nào. Cũng vậy, khi dùng hình ảnh này, Chúa Giêsu muốn nhấn mạnh đến giá trị, sự cần thiết của cương vị muôn đệ trong đời sống xã hội, thực thi chức năng của muối đất: ướp cho mặn cuộc đời.
Khi Chúa Giêsu sánh ví các môn đệ như muối đất và ánh sáng trần gian, thì Người đòi hỏi các môn đệ phải trở nên kiểu người mà qua đó người khác có thế nếm nhìn sự tốt lành của Chúa. Điều đầu tiên và trên hết, ánh sáng chỉ là ánh sáng khi nó được nhìn thấy. Một môn đệ của Chúa Giêsu hoàn toàn phải được nhận biết trong thế giới. Mặc khác, ánh sáng còn hàm nghĩa một sự hướng dẫn, chỉ đường nhờ việc chiếu tỏa các tia sáng của mình. Ánh sáng cũng có chức năng đưa ra một sự cảnh báo khi có nguy hiểm đang rình chờ phía trước. Thật vậy, sự so sánh này ngụ ý rằng một người theo Chúa Giêsu phải là một tấm gương cho người khác và có thể gây ảnh hưởng cách tích cực lên người khác, đồng thời, cảnh báo cho người khác thấy những nguy hiểm của tội lỗi trong thế giới.
Tóm lại, những người theo Chúa Giêsu được kêu gọi và vẫn được kêu gọi trở nên những người mà cuộc sống của họ chiếu sáng, hướng dẫn, và phản chiếu sự tốt lành của Chúa Giêsu, Đấng là ánh sáng trần gian. Chúng ta là muối và ánh sáng, tức là chúng ta phải có khả năng để người khác nếm và nhìn sự tốt lành của Thiên Chúa. Mỗi người sẽ có những cách thế riêng để hòa tan đời mình và ướp mặn cho cuộc sống, có cách để chiếu sáng cho cuộc đời. Chúng ta không sinh ra, để rồi tan biến như những hạt cát vô danh, mà chúng ta được sinh ra, được kêu gọi để ghi dấu lại trên mặt đất, trong cuộc đời và trong trái tim người khác thông qua các giao tiếp, ứng xử và cách xây dựng hình ảnh của mình theo hình ảnh của Chúa Giêsu.
 



Thứ Bảy, 25 tháng 1, 2014

Suy niệm Chúa Nhật 3 Thường Niên - Năm A

Suy niệm Chúa Nhật 3 Thường Niên - Năm A
TIẾNG GỌI QUA CÔNG VIỆC THƯỜNG NHẬT
 
  




Bắt đầu sứ vụ công khai, hành động đầu tiên của Chúa Giêsu là qui tụ một số người quanh mình để họ chia sẻ công việc và sứ vụ của Người. Họ không phải là những người Pharisêu hay các nhà thông luật, không phải là những nhà thông thái hay những người có ảnh hưởng trong cộng đoàn, nhưng là những ngư phủ không được học hành nhiều.

Hôm nay, chúng hướng nhìn về khung cảnh xảy ra lời mời gọi của Chúa Giêsu hướng về bốn môn đệ đầu tiên. Những người đã thực sự gặp Chúa Giêsu khi Người đã đi vào cuộc sống thường nhật của các ông và gọi các ông khi các ông đang vá lưới, đang thả lưới. Điều này có nghĩa rằng tiếng gọi xảy đến với chúng ta ngay trong chính môi trường chúng ta đang làm việc và sự khởi đầu của ơn gọi đến từ Chúa Giêsu. Chúa Giêsu rõ ràng đã nhìn thấy họ đang làm việc. Người biết rằng người cần những người khác giúp Người trong việc loan báo Tin mừng của Nước Thiên Chúa.

Anrê và Simon đang quăng chài và Giacôbê và Gioan đang vá lưới

Trong trình thuật Tin mừng của thánh Luca và Gioan, chúng ta thấy các môn đệ ít nhiều có thời gian khám phá về con người Giêsu trước khi họ được gọi, trong khi đó trình thuật của Máthêu thị lại khác. Chúa Giêsu tình cờ đi ngang qua nơi các môn đệ làm việc, và bỗng dưng Người gọi hai anh em ngư phủ: Anrê và Simon Phêrô, Giacôbê và Gioan. Và ngoại trừ trừ câu nói: "Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá", thì Người không đưa ra điều kiện gì cho việc theo Người, nơi họ sẽ đến và những gì họ phải làm. Mátthêu không bận tâm đến những chi tiết. Sự bận tâm của ngài là việc Chúa Giêsu bắt đầu sứ vụ công khai và Người cần sự giúp đỡ để Người có thể làm cho mình, “ánh sáng muôn dân”, chiếu tỏa trên mọi người.

Bốn môn đệ đầu tiên đã đáp lại tiếng gọi của Chúa Giêsu thế nào? Trong những lời của Mátthêu, các ông lập tức“bỏ chài lưới mà đi theo Người”. Mặc dù, họ không biết trước về Chúa Giêsu, nhưng họ đặt trọn niềm tin vào Người, vì thế họ để lại mọi thứ đằng sau: lưới đánh cá, cha mẹ và gia đình. Chính Chúa Giêsu cũng đã rời bỏ làng quê Nazareth, gia đình, công việc của một người thợ mộc đi dấn thân vào sứ vụ của mình. Từ đây, cuộc sống của họ không chỉ goi gọn trong sự lo lắng những gì họ đã đón nhận và gì giữ, nhưng còn phải phục vụ cho anh chị em, đặc biệt là những người bần cùng nhất.

Tiếng gọi theo Chúa Giêsu thiết lập một mối tương quan giữa những gì bây giờ các môn đệ là và những gì họ phải trở nên. Chúa Giêsu bảo họ hãy trở nên những “những kẻ lưới người”. Công việc trước kia của họ: kéo thực phẩm từ biển cả tối tăm và sâu thẳm, bây giờ mang một dấu chỉ của một thực tại thâm sâu hơn: kéo mọi người từ nơi tối tăm của tội lỗi và sự chết về trong ánh sáng của Chúa Giêsu Kitô.

Chúa Giêsu gọi chúng ta làm môn đệ

Câu nói của Chúa Giêsu: “tôi sẽ làm cho các anh thành…” có hàm ý rằng Người muốn cho các môn đệ một ý nghĩa, mục đích mới của của công việc. Các ông có thể tận dụng khả năng lưới cá để lưới người cho Nước Trời. Hay nói cách khác, ý tưởng và mục đích cuối cùng mỗi công việc là con người.

Thật tuyệt vời cho những tâm hồn mà sau khi gặp Chúa và nghe tiếng gọi của Chúa, bỏ lại chài lưới, cha mẹ họ, thuyền họ và lập tức đi theo Người. Tiếng gọi của Chúa Giêsu không mang tính ép buộc. Chúa muốn ai mà thờ phượng Người trong sự tự do và Thần khí. Người được gọi thì luôn luôn có thể có thể kháng lại hay chấp nhận tiếng gọi.

Tuy nhiên, chiều kích khác của tiếng gọi là sự thay đổi trong tâm hồn. Tiếng gọi của Thiên Chúa đi vào tận sâu thẳm tâm hồn con người và thay đổi con người. Một sự thay đổi không chỉ được diễn ra ở vẻ bên ngoài, nhưng còn thay đổi ở nơi sâu thẳm tâm hồn. Thật vậy, tiếng gọi không chỉ làm cho chúng ta rời bỏ cha mẹ, công việc, đúng hơn nó thay đổi tình yêu và mục đích của con tim chúng ta. Vì thế, là môn đệ của Giêsu, chúng tiếp tục những hành động của Chúa Giêsu đã làm, đó là giảng dạy, chữa trị, an ủi, cầu nguyện, thăm viếng người tội lỗi,… Sự đáp trả này thay đổi chúng ta, và sự thay đổi này có thể xảy đến cho công việc hiện tại, hay chúng ta vẫn tiếp tục công việc hiện tại đó trong ý thức về một sứ vụ mới. Mục đích của tiếng gọi là được sai đi.

Một khi gặp được Chúa Giêsu, thì một người đánh cá vẫn cứ hoài là một người đánh cá như xưa? Một đôi mắt đã thực sự nhìn thấy Chúa Giêsu thì làm sao có thể vẫn mù lòa trước lời kêu gọi cho một sứ vụ cao cả và thiết thực của Tin mừng? Chúa Giêsu đã gọi các môn đệ thực thi sứ mạng cứu độ của Người. Chúa Giêsu vẫn tiếp tục kêu gọi những môn đệ trong suốt chiều dài lịch sử. Chúa Giêsu cũng đang kêu gọi chúng ta trở nên môn đệ của Người trong môi trường xã hội hôm nay.

 
 
 
 


Thứ Sáu, 17 tháng 1, 2014

Suy niệm Chúa Nhật 2 Thường niên - Năm A


SUY NIỆM CHÚA NHẬT 2 THƯỜNG NIÊN - NĂM A
 Ga 1,29-34
 
Suy niệm
“ĐỂ NGƯỜI ĐƯỢC TỎ RA”
Sau khi cử hành những mầu nhiệm ánh sáng của biến cố Nhập thể, hôm nay chúng ta bước vào Chúa Nhật thứ hai của chu kỳ quanh năm. Đây là thời gian thuận tiện cho chúng ta chiêm niệm sứ vụ công khai của Chúa Giêsu qua lời nói và hành động của Người.
Không phải chỉ cần nhìn thấy Chúa Giêsu là đủ để biết Người là ai và Người mang đến điều gì cho con người. Chúa Giêsu không cho mọi người nhận biết Người bằng các thị kiến hay những bằng chứng bên ngoài, nhưng Người muốn những người được kêu gọi làm chứng về Người bằng cách giới thiệu Người cho người khác và đem người khác đến với Người. Tin mừng theo thánh Gioan hôm nay làm nổi bật lên vai trò chứng nhân thực sự của Gioan Tẩy giả về Chúa Giêsu. Ông đã hoàn thành tốt vai trò của một người làm chứng với một cung cách khiêm hạ.

 “Người phải nổi bật lên” (Ga 3,30).
Gioan Tẩy giả bắt đầu sứ mệnh của mình bằng việc giới thiệu căn tính và sứ vụ của Chúa Giêsu cho người Do thái. Tin mừng thứ tư cho chúng ta biết đây là lần đầu tiên Chúa Giêsu xuất hiện công khai, nhưng Người không có một thông điệp nào cho chúng ta. Chính Gioan Tẩy giả là người giới thiệu tất cả về Chúa Giêsu: Chiên Thiên Chúa, Đấng xoá bỏ tội trần gian, Con Thiên Chúa. Vai trò này thật quan trọng đến nỗi cả bốn sách Tin mừng đều có những trình thuật nêu bật vài trò và sứ mạng của một sứ giả đi trước mặt Chúa, dọn đường cho Chúa. Thật vậy, Cuộc đời của ông là một bằng chứng, qua đó hành động của Thiên Chúa được tỏ ra trong lịch sử con người.
Qua bốn Tin mừng, chúng ta có thể khẳng định rằng Gioan đã hoàn thành xuất sắc sứ mạng này. Qua những lời rao giảng và kêu gọi sám hối, Gioan đã tạo nên bầu không khí sôi sục tại Giêrusalem: đám đông lũ lượt kéo đến xin ông làm phép rửa, ngay cả một số người Pharisêu, Xađốc, thu thuế, binh lính cũng đến xin chịu phép rửa (Mt 3,7;Lc 3,1-10). Tiếng nói đanh thép của ông đã tạo ra một sự chuyển biến mới trong đời sống thiêng liêng của người Do thái. Hành động của ông như đang lôi kéo mọi người vào quĩ đạo của lòng đạo đức, khơi gợi lại niềm hy vọng Mêsia đã kéo dài khá lâu, đến nỗi họ tự hỏi: “biết đâu ông Gioan lại chẳng là Đấng Mêsia!”(Lc 3,15). Thế nhưng, Gioan kết thúc phận vụ của mình ngay ở đỉnh cao của sứ vụ, rút lui và nhường “sân khấu” lại cho Đấng mà ông giới thiệu. Không dao động bởi lòng yêu mến của công chúng, Gioan Tẩy giả chấp nhận và hài lòng với vai phụ của mình.
Có thể sánh ví cung cách của Gioan Tẩy giả với cung cách của các bậc hiền đức Đông phương: Chân nhân bất lộ tướng. Sau khi cống hiến tài đức cho các bậc minh quân, cho thời cuộc, các ngài rút về nơi thanh vắng. Các ngài không tận dụng những điểm mạnh của mình để thu hút sự chú ý, sự yêu thích và sự lựa chọn của đám đông để rồi làm lu mờ hình ảnh minh chủ của mình. Cũng vậy, Gioan Tẩy giả ý thức rõ lý do hiện hữu của mình trong thế giới này. Ông biết tại sao ông đến trong cuộc đời này: đến làm phép rửa trong nước để Người được tỏ ra cho dân Ít-ra-en (Ga 1,30). Ông chỉ là người cầm chiếc gậy chỉ về Chúa Giêsu và nói: Đây là Chiên Thiên Chúa, …Người trổi hơn tôi, vì có trước tôi. Đó là cung cách làm chứng về Chúa Giêsu của Gioan Tẩy giả: “Người phải nổi bật lên, còn thầy phải lu mờ đi” (Ga 3,30).

“Để Người được tỏ ra” trong thế giới hôm nay
Gioan Tẩy giả được sai đến để làm chứng cho Đấng Cứu Thế, và ông đã hoàn thành sứ mạng này. Cũng chính ông đã đưa các môn đệ của mình đến với Chúa Giêsu (Ga 1,35-37), sau đó các môn đệ này trở thành những chứng nhân cho Chúa Giêsu (x. Ga 1,41.45; 19,35) và Người đã sai họ đến thế gian (x. 17,18; 20,21). Đến lượt mình, mỗi người Kitô hữu cũng được mời gọi trở thành những chứng nhân cho Thiên Chúa trong bối cảnh hôm nay.
Sứ vụ của chúng ta là giới thiệu cho mọi người biết Chúa Kitô, tiếp tục công việc của Người trên mặt đất, mang ánh sáng, tình yêu của Người đến cho người khác như lời ngôn sứ Isaia: “Ta đặt ngươi làm ánh sáng muôn dân, để ngươi đem ơn cứu độ của Ta đến tận cùng cõi đất."(Is 49,6). Chúng ta được mời gọi làm việc này vì phép rửa của chúng ta. Và Chúa không ngừng tìm kiếm những tâm hồn thiện chí và sẵn lòng trở thành dụng cụ của Người trong việc mang ơn cứu độ đến cho người khác.
Điều quan trọng hơn hết là chúng ta phải có thái độ và cung cách nào để sứ vụ này mang lại hiệu quả. Trong bối cảnh xã hội hôm nay, người ta thích đánh bóng tên tuổi của mình, tìm mọi cách để khẳng định giá trị bản thân, ngay cả chiêu bài: hạ giá người khác để mình được nâng lên. Có những công việc, ở dáng vẻ bề ngoài, dường như đang hướng đến lợi ích của người khác, của cộng đồng, nhưng thực chất, người ta lợi dụng nó để đánh bóng tên tuổi của mình hay tổ chức của mình. Điều này cũng có thể xảy ra với chúng ta. Chúng ta có nguy cơ được tôn vinh, được đề cao giá trị bản thân nhờ việc thi hành sứ vụ làm chứng này. Như thế, thay vì chúng ta để Chúa Giêsu lớn lên thì chúng ta để mình lớn lên che khuất hình ảnh thực của Chúa Giêsu. Thay vì sứ vụ và con người của chúng ta biểu lộ vinh quang của Thiên Chúa (x. Is 49,3), thì chúng ta mang vinh quang về cho mình.
Tóm lại, trong tư cách là người đi trước dọn đường cho Chúa, Gioan Tẩy giả lặng lẽ dâng trọn cuộc đời mình mở đường cho Chúa đến, nhờ đó mọi người được chiêm ngắm vinh quang Thiên Chúa tỏ hiện nơi Chúa Giêsu. Trên các nẻo đường làm chứng cho đức tin vào Chúa Giêsu, người Kitô hữu cần để cho Người tỏ mình thật sự. Chúng ta chỉ có thể chọn cung cách của Gioan Tẩy giả để qua những công việc loan báo và làm chứng đó, người ta nhận ra khuôn mặt thực của Chúa Giêsu. Nếu tôi coi “cái tôi” của mình quá lớn, thì hẳn nhiên Đức Kitô trong tôi phải nhỏ đi. Làm cho “cái tôi” của mình nhỏ lại, chết đi, thì Đức Kitô mới sinh ra, lớn lên và rõ nét. Giữa Đức Kitô và “cái tôi” của tôi luôn có tỉ lệ nghịch với nhau: Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại, hoặc tôi lớn lên và Người chỉ còn cách là nhỏ lại.

Thứ Bảy, 11 tháng 1, 2014

Suy niệm Lễ Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa - Năm A


SUY NIỆM LỄ CHÚA GIÊSU CHỊU PHÉP RỬA - NĂM A


THIÊN CHÚA XUỐNG TẬN ĐÁY THẲM CUỘC ĐỜI

Tin mừng: Mt 3,13-17
Biến cố Thiên Chúa làm người là một tin vui trọng đại và là hồng ân lớn lao cho toàn thể nhân loại. Từ nay, Thiên Chúa luôn ở giữa con người và vũ trụ này. Tuy nhiên, đó là một cớ vấp phạm cho một số người, vì họ cho rằng đối tượng của đức tin phải là một điều gì đó vĩnh cửu, huyền nhiệm vượt ra ngoài không gian hữu hạn này. Thế nên, việc tin vào biến cố Thiên Chúa làm người chẳng khác gì chấp nhận cái Vô biên bị nhốt vào cái hữu hạn, một Thiên Chúa khôn dò khôn thấu bị bó rọ trong một điểm nhỏ nhoi của vũ trụ, một con người Giêsu. Như thế chúng ta đã loại trừ huyền nhiệm của Thiên Chúa?
Hôm nay, qua trình thuật của thánh Mátthêu, chúng ta tiếp tục đối diện với điều mà không ai có thể tưởng tượng ra, đó là Thiên Chúa liên đới trọn vẹn với số phận mạt kiếp của con người khi Chúa Giêsu, Thiên Chúa thật, tự xếp mình vào hàng ngũ các tội nhân để chờ được nhận phép rửa. Như thế, sự Thánh thiêng của Thiên Chúa có bị tổn thương? Thiên Chúa có nhiều cách để cứu con người, thế thì tại sao Người chọn cách đồng hàng với tội nhân? Chúa Giêsu có cần thiết phải hạn mình xuống tận đáy thẳm cuộc đời của mỗi người để cứu độ chúng ta?
Chúa Giêsu đến tận đáy thẳm cuộc đời con người
Chúng ta, không ít thì nhiều, đã có kinh nghiệm cứu giúp người khác trong cơn nguy khốn, tuy nhiên không phải lúc nào chúng ta cũng thành công. Đâu phải hễ nhân danh tình thương, có thiện chí, có phương tiện là chúng ta có thể ra tay kéo người khác ra khỏi những vũng lầy của cuộc đời được! Dĩ nhiên có nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân chính yếu của sự thất bại này là thiếu sự thấu hiểu, sự đồng cảm với người mà mình muốn giúp. Thật vậy, muốn giúp người khác được, chúng ta phải có lòng thương cảm và hiểu biết. Và chỉ khi người ta nhận được những tín hiệu tình thương từ phía chúng ta thì người đó mới đồng ý cho chúng ta giúp họ.
Đối với Thiên Chúa, cây lau bị giập, Người không đành bẻ gẫy, tim đèn leo lét, Người cũng chẳng nỡ tắt đi (x.  Is 42, 3) thì làm sao Người có thể ngoảnh mặt trước những đứa con mà mình tạo ra đang gặp thử thách khó khăn, đang chìm trong vũng lầy của tội lỗi. Trong tình cảnh như thế, con người không mong muốn gì hơn một cánh tay vững chãi, từ ái, vô điều kiện để mình có thể tin tưởng, phó thác. Thiên Chúa biết được nỗi đau khổ của tạo vật nói chung, và con người nói riêng đang quằn quại trong vũng lầy tội lỗi, vì thế Người sai Con Một của Người, Đức Giêsu đến và “mang thân xác giống như thân xác tội lỗi chúng ta” (Rm 8,3), “Người đã mang lấy các tật nguyền của chúng ta và gánh lấy các bệnh hoạn của ta” (Mt 8,17’ Is 53,4). Người đã trở nên thành viên và thủ lãnh của một nhân loại tội lỗi. Cánh tay từ ái của Người đã vươn đến tận những tâm hồn đau khổ, tan nát, dày vò.
Nếu Chúa Giêsu không vào vai của con người để thấu hiểu hết tâm trạng của con người, thì có lẽ Người cũng sẽ mãi mãi là người đứng bên lề câu chuyện, đứng ngoài tầm ô nhiễm của lịch sử con người. Nhưng, Chúa Giêsu muốn tỏ mình ra trong mối tương quan cá nhân, và Người đã chọn cách đứng vào hàng ngũ các tội nhân và trầm mình vào dòng sông Giođan để giữ trọn đức công chính, tức làm theo thánh ý Chúa Cha. Người biết rằng chúng ta đang ở đó, tại đáy thẳm cuộc đời, trong tình trạng nghèo hèn. Người sẵn sàng đến để gặp chúng ta, băng bó vết thương, chữa lành các tật nguyền thể xác và tâm hồn, và cuối cùng Người đưa chúng ta lên hiệp thông với Thiên Chúa.
Một phương cách làm việc tông đồ
Trong toàn bộ Tin mừng, chúng ta thấy Chúa Giêsu đã tỏ thái độ đối với những người Người đến phục vụ: chăm sóc, đồng bàn, băng bó, tha thứ và sống ở giữa họ. Mọi hoạt động, lời rao giảng của Người được qui định bởi chiều hướng và sứ mạng này. Người sẽ đi đến cùng lập trường này khi chấp nhận tự hủy trong cái chết trên thập giá.
Thật vậy, Người cứu độ chúng ta bằng cách đi vào tình cảnh của mỗi người, để có thể thấu hiểu, và từ đó biến đổi chúng ta từ bên trong. Như thế, Thiên Chúa muốn phác họa cho các Kitô hữu hôm nay một phương cách làm việc tông đồ: không phải là đứng từ trên mà phê phán, thống trị nhưng hòa mình để chia sẻ tình cảnh với người khác.
Muốn thấu hiểu nỗi đau khổ của người cần được cứu giúp, chúng ta phải nhìn kỹ lại thiện chí, khả năng và cung cách của mình. Cho dù có đầy thiện chí nhưng chúng ta vẫn tỏ vẻ của một bề trên, của một đàn anh đàn chị, của một người công chính thánh thiện thì chúng ta chưa thực hiện tốt vai trò của mình. Muốn vào được vai Chúa Giêsu thì hoặc là chúng ta đã từng nếm trải những nỗi đau ấy, hoặc là có sự đồng cảm thật sự với những người chúng ta muốn giúp. Của cho không bằng cách cho, sự trợ giúp không bằng cách giúp. Để làm được như vậy, chúng chỉ còn cách bỏ bớt cái tôi tự mãn của mình để sẳn sàng làm người bạn thân, làm chỗ tựa, làm nơi an ủi thật sự cho họ.
Lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa nhắc chúng ta nhớ đến phép rửa của mỗi người. Qua Phép rửa đã lãnh nhận, chúng ta đón nhận một tiếng gọi từ Thiên Chúa: Hãy trở nên môn đệ đích thực của Chúa Giêsu bằng cách bắt chước hành động hạ mình thẳm sâu của Người, luôn nhìn ý thức thân phận nhỏ bé của mình trước sự cao cả vô biên của Thiên Chúa. Hãy trở thành người phục vụ những người nghèo khó, cảm thông với những người còn ở trong bóng tối sự dữ, tôn trọng những người cô thân cô thế, tích cực rao giảng Tin Mừng giải thoát cho mọi người.

Thứ Bảy, 4 tháng 1, 2014

Suy niệm Lễ Hiển Linh



 “Muôn dân nước thảy đều phụng sự Người” (x. Tv 72,11).

 
Tin mừng: Mt 2,1-12
Thiên Chúa đến với con người và Thiên Chúa muốn con người nhận biết Người. Suốt chiều dài lịch sử Israel, bằng những cách thức khác nhau, Thiên Chúa tỏ mình ra cho Dân của Người qua các các tổ phụ, các ngôn sứ. Còn đối với các “dân ngoại”, những dân tộc không được mặc khải, thì họ dùng trí khôn của mình để nhận biết Thiên Chúa khi chiêm ngắm những công trình của Người (x. Rm 1,20). Trong biến cố Ngôi Hai Thiên Chúa sinh xuống làm người, ngoài việc thiên thần của Thiên Chúa mặc khải cho các mục đồng về Hài nhi Giêsu, Thiên Chúa còn dùng ngôi sao lạ để dẫn các nhà đạo sĩ Phương đông đến bái lạy Hài Nhi Giêsu (x. Mt 1:1-3).
Thiên Chúa muốn hết thảy chư dân nhận biết Người
Hai trình thuật Kinh Thánh, một của Mátthêu và một của Luca, đã nói về biến cố sinh hạ của Chúa Giêsu, nhưng chỉ có trình thuật của Mátthêu ghi lại sự xuất hiện của ngôi sao và các nhà đạo sĩ phương đông. Nhờ thế, chúng ta thấy được một bức tranh toàn cảnh như tác giả Thánh vịnh 72 loan báo: “Mọi quân vương phủ phục trước bệ rồng, muôn dân nước thảy đều phụng sự” Người (x. Tv 72,11). Trong bức tranh đó có “ Ba Vua”, các mục đồng, bò lừa, sao trời,… tất đang qui phục trước Đấng Tối Cao mang hình hài của một Hài Nhi nhỏ bé, yếu ớt, mỏng mạnh. Như thế, đối tượng đầu tiên của cuộc tỏ hiện này là các mục đồng nghèo hèn, thấp cổ bé họng. Qua các thiên thần, Thiên Chúa như trực tiếp loan báo tin vui lớn lao, một “tin mừng trọng đại, tin mừng của toàn dân” cho những tâm hồn đơn sơ này. Đối tượng thứ hai, đó là những dân ngoại, những dân tộc xa lạ với lời hứa cứu độ. Bằng khả năng hiểu biết thiên văn học của mình, họ đã khám phá ra dấu vết Thiên Chúa. Một ngôi sao xuất hiện bất thường trên bầu trời đã thúc đẩy các nhà đạo sĩ bôn ba lên đường và tra hỏi: "Đức Vua dân Do thái mới sinh, hiện ở đâu? Chúng tôi đã thấy vì sao của Người xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Người."(Mt 2,2). Một khởi đầu cho hành trình tìm kiếm Thiên Chúa của họ. Thật vậy, Thiên Chúa dùng mọi cách thế để Hài Nhi Vua được nhận biết và Người phải là Đấng được sở hữu bởi mọi người.
Ngôi sao, yếu tố khởi đầu cho cuộc gặp gỡ Thiên Chúa
Ngôi sao lạ đã dân đưa các nhà đạo sĩ đến vùng đất Giuđa. Theo suy luận bình thường, khi tìm vị “vua của người Do thái” thì đương nhiên họ phải đến tư dinh của vua Hêrôđê, nơi mà vị vua tương lai mới có thể sinh ra. Bằng trí khôn hay cách suy luận thông thường, các nhà đạo sĩ chỉ mới đặt chân đến được “vùng ngoại vi” của cuộc gặp gỡ Thiên Chúa. Còn muốn gặp được “người thừa kế đích thực của vua Đavít, họ cần phải có những lời chỉ dẫn của Thánh Kinh Israel, lời của Thiên Chúa hằng sống (Đức Bênêndictô XVI). Đúng vậy, ngôi sao dẫn đường có vai trò tác động sơ khởi cho cuộc hành trình tìm kiếm Thiên Chúa. Hình ảnh ngôi sao là dấu chứng đầu tiên để họ lên đường. Ngôi sao không thể nói cho các nhà đạo sĩ hay cho bất cứ ai, nếu họ không được đánh động bằng một cách thức khác: được đánh động từ bên trong nhờ niềm hy vọng vào ngôi sao xuất hiện trên nhà Giacóp (Đức Bênêndictô XVI). Các đạo sĩ Phương đông trong điều kiện cụ thể của mình đã đọc ra ngôn ngữ của vũ trụ, và do đó nó giúp họ ý thức về sự hiện diện của Thiên Chúa, nó gợi lên hy vọng vào sự tỏ mình của Thiên Chúa và nó giúp họ xác tín rằng sẽ có lúc họ sẽ gặp được Thiên Chúa. Tuy nhiên, ngôi sao dẫn đường không phải là “người bạn đồng hành” hay “người dẫn đường” xuyên suốt trong cuộc hành trình tìm kiếm Thiên Chúa của các nhà đạo sĩ. Ngôi sao có lúc phải biến mất để nhường cho những lời chỉ dẫn của lời Chúa trong Sách thánh. Quả đúng như vậy, bằng cách đó họ tìm ra Đấng mà bên ngoài có vẻ yếu ớt và mong manh, nhưng mang lại niềm vui sâu xa cho tâm hồn. Thế là họ liền sấp mình thờ lạy Người, dâng lên Người vàng, nhũ hương và mộc dược như một dấu chỉ của sự thần phục.
Cuộc gặp gỡ tạo nên những ngã rẽ cho cuộc đời
Cuộc trở về quê hương của các nhà đạo sĩ sau khi gặp được Hài Nhi Giêsu không phải là sự kết thúc của một hành trình kiếm Hài Nhi, Vua của dòng dõi Đavít của chư dân, nhưng là một sự “khởi đầu của đoàn rước khổng lồ của những ai, dọc suốt dòng thời gian của lịch sử biết nhận ra sứ điệp của ngôi sao, biết bước trên con đường được Sách Thánh chỉ dẫn để đến với Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa”.
Ngày hôm nay, bên cạnh những ngôi sao trên bầu trời âm thầm nói về Thiên Chúa, mỗi người chúng ta có “Ngôi sao Giêsu” mọc lên, đi trước, dẫn đường cho chúng ta tiến tới Thiên Chúa. Hạnh phúc biết bao nếu chúng ta bước theo ngôi sao đó cách kiên định trong suốt cuộc hành trình của cuộc đời, dù cho ngôi sao đó lúc ẩn lúc hiện, lúc sáng tỏ lúc mờ nhạt, và những lúc dường như biến mất trong cuộc đời chúng ta. Bằng cách đó, mỗi người theo cách thế của mình sống cái kinh nghiệm của các nhà đạo sĩ năm xưa.

Thứ Bảy, 28 tháng 12, 2013

Suy niệm Lễ Thánh Gia Thất - Năm A

 
SUY NIỆM LỄ THÁNH GIA THẤT - NĂM A

Suy niệm
Hài Nhi Giêsu, Thiên Chúa làm người, đi vào thế gii. Hài Nhi Giêsu bé nh yếu t nm trong hang đá kia là mt quà tng vô giá cho con người. Người đến đ làm cho con người tr thành con Thiên Chúa và kết hp mi người thành mt đi gia đình. Người chn con đường cu đ qua vic sinh vào trong mt gia đình ca nhân loi, làm cho gia đình nhân loi tr nên cng đng thánh thin vn phn chiếu tình yêu ca cng đng Thiên Chúa Ba Ngôi. Đó là gia đình ca thánh Giuse, m Maria và Chúa Giêsu. Mt gia đình thánh mà hôm nay Giáo hi mi gi mi gia đình Kitô giáo nhìn vào như mt kiu mu đ h có th tiến gn đến s trn lành. Phi chăng li mi gi nên thánh ch dành riêng cho nhng người sng trong bc tu trì mà không phi là gia đình? Phi chăng li mi gi này tr nên gian nan hơn cho các gia đình khi h đang sng trong các xã hi mà nhng giá tr căn bn ca gia đnh b gim thiu, nhng thách đ v kinh tế, k ngh, quan nim hưởng th,… mà có th gây đ v mt gia đình bt c  lúc nào?
Chúng ta hãy chiêm ngm gia đình thánh Giuse, Maria và Chúa Giêsu. Mt gia đình thánh không có nghĩa là đi sng gia đình luôn luôn êm , không đi din vi sóng gió t trong gia đình cũng như t bên ngoài. Như nhiu gia đình khác, gia đình thánh Giuse cũng gp nhng th thách, nhng khó khăn trong đi sng, thm chí h phi đi din vi nhng khó khăn ln ngay t lúc gia đình trong giai đon thành hình. Thiếu n Maria phc tùng thánh ý Thiên Chúa và chp nhn nguy cơ b v hôn thê hiu lm v s chung thy, b gia đình, hàng xóm láng ging d ngh v đc hnh ca mt thiếu n. Còn Giuse thì kh s vô cùng vì v hôn thê ca mình đang mang trong d git máu không phi là ca mình. Khi nhng khó khăn trước hôn nhân được gii ta, hai v chng tr li phi sinh con trong cnh nghèo hèn, thiếu thn tư b. Đa con chào đi chưa được bao lâu, thì c gia đình phi trn sang đt khách quê người đ bo đm s sng cho con tr. Sut cuc đi, Đc Maria tri nghim trong âm thm, chu đng nhng li tiên tri ca ông bà Simêon và Anna: “cháu bé này làm duyên c cho nhiu người Ít-ra-en ngã xung hay đng lên… là du hiu cho người đi chng báng.  Biến c Chúa Giêsu b treo trên thp giá nhưmt lưỡi gươm s đâm thâu tâm hn bà"(Lc 2,35).
Mc du đi din vi nhng sóng gió như thế, Giuse luôn chng t mình là mt người Israel đích thc, mt người công chính: vâng li Thiên Chúa và sn sàng làm theo thánh ý Thiên Chúa bng bt c giá nào. Kinh thánh không trích dn mt li nào ca thánh Giuse, tuy nhiên nhng hành đng bo bc, thăng tiến gia đình trong ý đnh ca Thiên Chúa nói lên cách hùng hn s tn ty ca mt con người cho Thiên Chúa và cho gia đình. Đc Maria cũng t rõ mt đc tin phi thường vào Thiên Chúa và tình yêu Thiên Chúa dành cho mình: lng nghe và chp nhn li mi gi tr nên M Thiên Chúa, và sng li mi gi này sut đi. Trong vai trò người v, Maria giúp Giuse trong vic tìm kiếm s thánh thin. Là mt người m, Đc Maria chăm sóc Chúa Giêsu vi mt tình yêu bao la và s du dàng. C thánh Giuse ln Maria to nên mt môi trường đ “Đc Giê-su ngày càng thêm khôn ngoan, thêm cao ln và thêm ân nghĩa đi vi Thiên Chúa và người ta (Lc 2,51-52). V phn mình, vi tình yêu mãnh lit dành cho Chúa Cha và cho con người, Chúa Giêsu thi hành thánh ý Chúa Cha trong mi khonh khc cuc đi. Và, không vì thế mà Chúa Giêsu đánh mt đi tình yêu dành cho Đc Maria và thánh Giuse, trái li Người hng vâng li và kính trng cha m nuôi ca mình.
Như thế, Thánh gia là mt cng đoàn khn khít. Tình yêu dành cho Thiên Chúa và tình yêu gia các thành viên trong mt gia đình ràng buc và liên kết h vi nhau. Kiu mu tình yêu tn hiến này giúp cho chúng ta nhn ra được nhng yếu t nòng ct vn làm nên mt gia đình thánh. Mt gia đình tham gia vào s thánh thin ca Thiên Chúa khi h sng theo li mi gi ca thánh Phaolô: Uc chi li Đc Ki-tô ng gia anh em tht di dào phong phú (Cl 3,16). “Người làm v hãy phc tùng chng. Người làm chng hãy yêu thương ch đng cay nghit vi v. K làm con hãy vâng li cha m trong mi s. Nhng bc làm cha m đng làm cho con cái bc tc, ko chúng ngã lòng (Cl 3,19-20). Tht vy, yêu nhau và chung thy vi nhau chính là bn phn đu tiên ca đôi v chng. Tình yêu y dn đến tình yêu và s dưỡng dc con cái. Mt gia đình chan cha tình yêu thúc đy các thành viên hướng ra bên ngoài đ thực thi bn phn đi vi Giáo hi. Không th có mt gia đình thánh mà v hoc chng siêng năng vic Giáo hi nhưng li b bê vic gia đình, hay chỉ biết sống bn phn đi vi v, chng, con cái mà quên trách nhiệm đối với Giáo hi, xã hi. Sự thánh thiện hệ tại ở việc chu toàn bổn phận bên trong cũng như bên ngoài gia đình. Tuy nhiên, s thánh thin ca đôi v chng Kitô hu trước tiên h ti vic xây dng, cng c tình yêu la đôi.
Ngoài gia đình thánh Giuse, Maria và Chúa Giêsu ra, ngày nay, chúng ta còn có biết bao tm gương gia đình Kitô hu thánh thin trong nhng bi cnh xã hi sa sút v giá tr căn bn ca gia đình. C th nht, năm 2001, Đc Giáo hoàng Gioan Phaolô II phong chân phước cho ông Luigi Beltrame Quattrochi (1880-1951) và v Maria Corsini (1884-1965). Ðôi v chng sng ti Rôma. Chân phước Luigi Quattrochi là cu phó b trưởng tư pháp ca Ý và là bn thân ca nhiu chính tr gia ni tiếng ca Ý như Alcide de Gasperi và Luigi Gedda, người đã cng tác trong quá trình xây dng li nước Ý sau chế đ ca nhà đc tài Mussolini và Thế Chiến Th Hai. Bà Maria Corsini là mt giáo sư và là mt nhà văn v các đ tài giáo dc. Bà cũng là thành viên ca nhiu hip hi, trong s này có Hi Ph N Công Giáo. ÐHY Jose Saraiva Martins, tng trưởng b Phong Thánh, đã nhn xét như sau “Hai ông bà đã biến gia đình ca hai người thành mt giáo hi ti gia thc s, đón nhn s sng, cu nguyn, làm chng nhân ca Tin Mng, thi hành s mng tông đ xã hi, liên đi vi người nghèo và th hin tình huynh đ vi người khác.
Tóm li, nhng gì chúng ta c hành hôm nay trước hết là nhm hướng v Thiên Chúa, Đng to nên đnh chế gia đình dù có nhng khiếm khuyết. Thiên Chúa chn gia đình đ đến vi nhân loi đ biến đi gia đình và làm cho gia đình tr nên mt trong nhng cách thế Người cu đ con người. Th đến, chúng ta hc được t tm gương ca Thánh gia rằng gia đình chúng ta cũng có th tr nên thánh nếu chúng ta đ Li Chúa cư ng gia nhng gia đình, và bng cách đó h có th yêu nhau, sng trn cho nhau, hy sinh cho nhau, thu chung vi nhau dù cho đi sng gia đình luôn gp nhng th thách, khó khăn thế nào đi nữa. Ước gì, trong năm 2014 sp ti, tm gương gia đình ca thánh Giuse, Đc Maria và Chúa Giêsu tác đng cách mnh m lên các đình Công giáo Vit nam đ mi gia đình tr thành cng đoàn thm nhun Tin Mng, và loan báo nim vui Tin Mng cho nhng người chung quanh như li mi gi ca Hi Đng Giám Mc Vit Nam: “Phúc Âm hóa đi sng gia đình”.